ADRA Úc

Tư vấn qua email

Tư vấn qua radio

trả lời tư vấn

Thống kê

Lượt xem
Các bài viết
870
Bài viết của bạn đọc
24
Trả lời tư vấn
578
Các liên kết web
10
Số lần xem các bài viết
767179

Số người đang online: 55

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Website qua đâu?
 

Kiến thức làm mẹ

Kiến thức làm mẹ
 
Đối với phần lớn phụ nữ thì việc quyết định có con không đơn giản là một quyền, mà nó còn là điều thú vị mang đầy ý nghĩa. Để chuẩn bị làm mẹ, bạn có thể đương đầu với một số khó khăn như làm mẹ ở tuổi nào là tốt nhất? Việc chuẩn bị làm mẹ như thế nào? Làm thế nào để chăm sóc sức khoẻ khi mang thai…

 

 

 

 

Trong trang này để bạn có thêm kiến thức làm mẹ, xin mời bạn tham khảo những vấn đề sau:

Sự thụ thai

Tuổi sinh con hợp lý

Chăm sóc trước sinh

Chuẩn bị những gì cho bé và mẹ trước khi sinh

Chăm sóc bà mẹ và bé sau khi sinh

 

SỰ THỤ THAI

Sự thụ thai là kết quả của giao hợp dương vật - âm đạo mà không sử dụng biện pháp tránh thai. Bí quyết của sự thụ thai là hoạt động tình dục của hai người nam và nữ. Khi hai người giao hợp (tức là có dương vật trong âm đạo) và người nam xuất tinh, thì tinh dịch có chứa tinh trùng sẽ phóng thẳng vào âm đạo. Ngoài ra, chất dịch tiết ra từ dương vật trước khi xuất tinh cũng có thể có chứa tinh trùng.

Từ trong âm đạo, các chàng tinh trùng quẫy đuôi liên tục, bơi lên tử cung rồi ống dẫn trứng và có thể sống ở đây khoảng 2-3 ngày để chờ gặp được nàng trứng. Điểm hẹn của tinh trùng và trứng là một phần ba phía ngoài ống dẫn trứng. Các chàng tinh trùng sẽ đến đây, nếu một trong hai ống dẫn trứng đã có một nàng trứng trưởng thành đợi sẵn (trứng sau khi rụng có thể sống được trong khoảng 12-24 giờ), hoặc sẽ có một nàng trứng di chuyển đến đây trong vòng 3 ngày. Tại điểm hẹn có hàng ngàn tinh trùng đợi trứng. Trong số hàng ngàn tinh trùng vây quanh trứng thì một trong số những tinh trùng nhanh nhẹn và khoẻ mạnh nhất thâm nhập vào được lớp vỏ ngoài, màng sẽ lập tức thay đổi tức thì để ngăn không cho các tinh trùng khác vào theo. Tinh trùng chiến thắng chui vào bên trong trứng, nhân của nó hợp nhất với nhân của trứng, cả hai hợp thành một tế bào gọi là "hợp tử" (hay còn gọi là trứng thụ tinh). Như vậy là sự thụ tinh đã hoàn thành.

Sau khi thụ tinh là lúc hợp tử phải làm tổ ở một chỗ thích hợp để phát triển thành em bé. Ống dẫn trứng nhỏ, kém co giãn, không phải là chỗ cho em bé hình thành. Chỗ của em bé còn cách nơi đây một đoạn đường nữa, đó là buồng tử cung. Do đó hợp tử phải di chuyển mất vài ngày hay một tuần mới về đến buồng tử cung. Trên đường đi hợp tử phân chia thành một khối tế bào. Tới buồng tử cung khối tế bào "nhập hộ khẩu" ở đây, lấy thức ăn, nước uống từ niêm mạc tử cung. Vậy là sự làm tổ đã hoàn thành.

Bạn nên biết: Chỉ có khoảng 2/3 các trường hợp là hợp tử làm tổ được. Các trường hợp còn lại bị loại bỏ vì hợp tử không khoẻ mạnh, người phụ nữ lại hành kinh, đợt này có thể chậm vài ngày hay một tuần.

 

Các yếu tố bất lợi khi mang thai

- Mang thai khi có bệnh thiếu máu, HIV/AIDS, STDs, sốt rét, bệnh tim, phổi, gan, thận…

- Hút thuốc, uống rượu khi mang thai

- Mang thai khi tình cảm xáo trộn

- Thụ thai ngay sau khi ngừng uống thuốc tránh thai

- Thụ thai sau khi chiếu X quang nhiều lần

- Thụ thai trong hoàn cảnh bất lợi (cưỡng dâm, hiếp dâm)

- Thụ thai thời kỳ tân hôn

 

Sau bước thụ thai này còn cả một thời kỳ biến đổi, khối tế bào trong buồng tử cung sẽ phát triển thành bào thai nằm trong túi ối, có rau thai lấy chất dinh dưỡng từ máu mẹ để sống và thành hình, để rồi khoảng chín tháng sau, em bé sẽ chào đời.

 

Về đầu trang

 

 

TUỔI SINH CON HỢP LÝ – KHOẢNG CÁCH GIỮA HAI LẤN SINH

Tuổi sinh con hợp lý

Việc quyết định thời điểm sinh con là một quyết định quan trọng và cần được cả hai vợ chồng cân nhắc đặc biệt là tuổi đời của người mẹ, những kiến thức làm mẹ, điều kiện về nghề nghiệp cũng như kinh tế của gia đình là một yếu tố vô cùng quan trọng. Bởi có rất nhiều bạn trẻ đang còn trong độ tuổi "cắp sách đến trường", hoặc chưa có nghề nghiệp ổn định đã có con, hoặc mới cưới sau một năm thì đã có con, hoặc có những trường hợp sinh con không nằm trong sự mong đợi của cả người cha lẫn người mẹ… trong những trường hợp như vậy thì những đặc điểm tâm sinh lý của người mẹ, khả năng và điều kiện chăm sóc cho bé sẽ gặp rất nhiều khó khăn và có nguy cơ tai biến cao cho cả hai mẹ con. Nếu bạn có được sự cân nhắc và chuẩn bị tốt cho việc quyết định thời điểm sinh con thì cả mẹ và bé sẽ được khoẻ mạnh và an toàn. Do đó, tuổi sinh con hợp lý và an toàn nhất là sinh con vào khoảng từ 20 đến 35 tuổi.

Các nguy cơ của việc có con trước 20 tuổi

Vì cơ thể bạn gái chưa phát triển hoàn chỉnh, khung chậu hẹp gây đẻ khó, dễ có tai biến cho con (chuyển dạ lâu thai dễ bị ngạt) và tai biến cho mẹ (tỷ lệ rách đường đẻ cao hơn bình thường vì đường đẻ hẹp, dẫn đến làm tăng nguy cơ chảy máu.)

Vì trẻ sinh ra ở những bà mẹ dưới 20 tuổi thường có cân nặng thấp dưới 2500g cao do đó tỷ lệ chết trẻ mới đẻ cao và tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi ở các bà mẹ này là cao hơn.

Khi sinh con trước tuổi 20 bạn sẽ bị hạn chế khả năng học tập và cơ may kiếm việc làm thích hợp.

 

Các nguy cơ của việc có con sau 35 tuổi

Vì người mẹ hơn 35 tuổi có nguy cơ thai nghén cao hơn vì cơ thể không còn sung sức, trứng đã "già".

Vì độ giãn nở của khung chậu đã bị hạn chế nên cũng dễ đưa đến đẻ khó, dễ có tai biến cho cả mẹ và con.

Mang thai khi đã lớn tuổi thì tỷ lệ rối loạn nhiễm sắc thể cao nên tỷ lệ con mắc bệnh đần độn (Down) ở các bà mẹ này thường cao hơn bình thường.

 

Khoảng cách giữa hai lần sinh

Việc lựa chọn khoảng cách giữa hai lần sinh là vô cùng quan trọng bởi nếu bạn có sự giãn khoảng cách giữa hai lần sinh hợp lý thì bạn sẽ có đủ thời gian để phục hồi sức khoẻ sau khi mang thai, sinh con và nuôi con, tránh được những rủi ro trong thai nghén và sinh nở, có đủ thời gian để chăm sóc và dậy dỗ con, đồng thời tạo cơ hội cho bạn có điều kiện để phát triển kinh tế gia đình và hoà nhập xã hội. Cho nên khoảng cách giữa hai lần sinh hợp lý là từ 3 đến 5 năm.

         

Về đầu trang

 

 

CHĂM SÓC TRƯỚC SINH

Mang thai là một hiện tượng sinh lý bình thường, nhưng nếu các bà mẹ không được chăm sóc, quản lý, phát hiện và điều trị các bất thường trong thai nghén kịp thời dễ xảy ra tai biến cho mẹ, con và có thể dẫn đến tử vong. Cho nên chín tháng mang thai là thời gian mà bố mẹ bé và cả gia đình cùng cố gắng để mong sao khi sinh nở được "mẹ tròn con vuông". Do đó người phụ nữ mang thai cần phải biết cơ bản về những kiến thức chăm sóc thai nghén một cách phù hợp. Những kiến thức về chăm sóc thai nghén không chỉ dành riêng cho người mẹ mà nó còn rất quan trọng đối với người cha và những thành viên khác trong gia đình.

Khám thai vô cùng quan trọng trong việc chẩn đoán sớm bệnh lý của thai nhi, nguy cơ tai biến, từ đó có giải pháp kịp thời bảo đảm cho việc an toàn thai nghén và sinh nở. Khi biết mình có thai, bạn nên đi khám thai sớm và khám thai theo định kỳ để cán bộ y tế khám, theo dõi sức khoẻ toàn diện cho mẹ và thai nhi từ đó bạn sẽ nhận được những lời khuyên cần thiết, đồng thời đây cũng là dịp để bạn thảo luận bất kỳ điều gì bạn lo lắng hoặc quan tâm trong quá trình mang thai.

Khám thai sớm:

Mục đích: Để cán bộ y tế khám, theo dõi sức khoẻ toàn diện cho mẹ bé, xác định việc thai nghén có cần theo dõi đặc biệt hay không?

Nên khám thai lần đầu sau chậm kinh 3-4 tuần.

Khám thai định kỳ:

Mục đích: Theo dõi sức khoẻ mẹ bé, sự phát triển, hoạt động của thai nhi, xác định vị trí thai nhi và thời gian dự tính sinh nở.

- 3 tháng đầu khám và siêu âm lần thứ nhất sau chậm kinh 3-4 tuần.

- 3 tháng giữa khám và siêu âm lần tiếp theo.

- Tháng thứ 7 và 8-> Hai tuần khám một lần và siêu âm 1 lần.

- Tháng thứ 9: Tuần khám 1 lần cho đến khi đẻ.

Khám thai sớm và khám thai định kỳ có: Đo huyết áp, nghe tim phổi, siêu âm hoặc đo vòng bụng và chiều cao tử cung, nghe tim thai, xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu.

Ít nhất trong thời gian thai kỳ bạn cần được khám thai 3 lần (vào tháng 3, 5,7) là tốt nhất.

Để tránh nguy cơ thiếu máu ở bà mẹ, cần uống viên sắt bổ sung hàng ngày từ khi có thai đến 1 tháng sau sinh.

Để tránh uốn ván sơ sinh cho bé, mẹ bé cần được tiêm vac xin phòng uốn ván hai lần:

- Thai lần 1 tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván:

     + Mũi thứ nhất cách mũi thứ hai 1 tháng.

     + Mũi thứ hai tiêm trước khi sinh ít nhất 1 tháng

- Thai lần 2:

     + Dưới 5 năm chỉ cần tiêm 1 mũi ở giai đoạn 2 của thai kỳ.

     + Trên 5 năm tiêm như có thai lần 1

Từ khi thụ thai đến khi sinh nở, mẹ bé cần tăng từ 9 đến 14kg, có vậy mới đảm bảo sức khoẻ, giảm nguy cơ tai biến, đảm bảo sự phát triển bình thường về thể lực, trí tuệ của bé. Khi có thai mẹ bé cần ăn nhiều hơn trước, ăn cả cho bé nữa mà! Đừng nên ăn kiêng khem. Nếu mẹ bé ăn uống không tốt, việc mang thai, sinh đẻ có thể nguy hiểm đến tính mạng hai mẹ con, bé sinh ra bị suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự phát triển sau này.

Mẹ bé nên ăn nhiều bữa để bé không bao giờ bị đói. Để mẹ bé dễ ăn, cần chú ý nấu những món ăn dễ tiêu, hợp khẩu vị, đủ dinh dưỡng, không có chất kích thích.

Dinh dưỡng tốt không nhất thiết phải tốn nhiều tiền, quan trọng là đủ các chất cần thiết đó là:

- Chất đạm: Cần cho sự sinh trưởng. Chất đạm có ở trong thịt, cá, cua, tôm, trứng, sữa, các sản phẩm từ đậu nành, các loại đỗ, lạc...

- Chất bột: Là chất cung cấp năng lượng cho cơ thể như: Gạo, ngô, khoai, bánh mì...

- Chất béo như: Mỡ động vật, dầu thực vật, đậu nành, lạc vừng, sữa, bơ...

- Vitamin và chất khoáng là những chất tăng sức đề kháng cho cơ thể như: Các vitamin có trong các loại rau xanh, hoa quả tươi, canxi có trong cá nhỏ kho nhừ cả xương, xương, sữa, sắt có trong gan, thịt bò, bí đỏ, rau có màu xanh thẫm, kẽm có trong các thực phẩm là hải sản như: Hầu, tôm, cua biển, thịt lợn, thịt bò, thịt dê...

- Nước cũng rất quan trọng. Mẹ bé mỗi ngày cần uống khoảng 2 lít (Tính cả nước canh, nước hoa quả)

 

Nên

Không nên

- Ăn nhiều hơn bình thường, không nên ăn kiêng

- Thức ăn đa dạng: Gạo, ngô, khoai, thịt, cá, trứng, tôm, tép...dầu mỡ, rau xanh,hoa quả...

- Uống rượu, cà phê, hút thuốc lá

- Ăn các thức ăn cay, nóng

- Uống thuốc tuỳ tiện, không có chỉ dẫn của bác sĩ

 

Tránh bệnh tật và các chất độc

Trong thời gian mang thai, phụ nữ cần tránh các chất độc hại và cố gắng đừng để bị ốm. Nếu bị ốm thì nên đi khám bác sỹ trước khi dùng một loại thuốc nào vì nhiều thuốc rất có hại cho thai nhi và có thể dẫn đến một số dị tật. Phụ nữ mang thai cần được tiêm phòng rubella trước khi có mang. Nếu phụ nữ mắc Rubella trong thời gian mang thai có thể dẫn đến các dị tật bẩm sinh cho trẻ. Dưới đây chúng tôi xin kể tên một số chất mà phụ nữ cần tránh, nhất là trong thời kỳ mang thai.

Các chất mà người mẹ mang thai cần tránh là: Rượu, bia, thuốc lá, thuốc trừ sâu, thuốc nhuộm tóc.

Phụ nữ mang thai không nên uống rượu: Sử dụng rượu/bia trong thời giam mang thai rất nguy hiểm cho thai nhi, nhất là trong thời gian 3 tháng đầu. Nếu bà mẹ trong thời kỳ mang thai uống rượu (Uống rượu nói tới ở đây là uống nhiều rượu hoặc uống rượu trắng có độ cồn cao) thì thường dẫn đến thai nhi mắc Hội chứng trúng độc cồn. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh. Sau khi đẻ, ở trẻ sơ sinh dần dần xuất hiện triệu chứng căn bệnh này, trong đó bao gồm: Trí lực yếu kém, chức năng hệ thống thần kinh trung ương không bình thường, những dị tật về mặt sinh trưởng (người nhỏ, nhẹ cân, đầu bẹt nhỏ..), phát triển cũng có thể biểu hiện ra các hiện tượng như: tổ chức não bộ biến dạng, mặt có dị dạng (mặt bẹt, sống mũi gẫy, chóp mũi và môi trên cách xa nhau, nhân trung không có rãnh...). Tuy một số bệnh lý nào đó có thể dần dần biến mất theo sự trưởng thành của đứa trẻ,nhưng đại đa số bệnh lý có thể kéo dài suốt thời kỳ vị thành niên của trẻ.

Phụ nữ mang thai tuyệt đối không nên hút thuốc lá.

Nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy rằng phụ nữ mang thai hút thuốc lá dễ dẫn đến:

- Sẩy thai

- Thai chết lưu

- Đẻ non

- Bào thai chậm phát triển và trẻ sinh ra nhẹ cân

- Giảm khả năng trí tuệ của trẻ

- Gặp nhiều biến chứng hơn trong khi sinh

- Thai nhi dị dạng (chủ yếu là bệnh tim bẩm sinh và thường là dị tật ở tim tương đối nghiêm trọng)

- Gây ảnh hưởng đến khả năng thính giác của trẻ như: Trẻ sơ sinh khi đẻ ra có phản xạ thính giác kém, hoặc dễ làm cho khả năng thính giác trong quá trình trưởng thành của trẻ bị giảm sút...

Bởi trong thuốc lá có hơn 4.000 chất độc hại cho cơ thể, trong đó có rất nhiều chất gây ung thư. Để biết chi tiết, mời bạn xem trang Phòng tránh lạm dụng các chất kích thích > Tác hại của thuốc lá.

Tác hại chủ yếu của việc hút thuốc lá đối với phụ nữ mang thai và thai nhi là chất Nicotin, oxitcacbon và các chất độc hại khác. Chất Nicotin có thể làm co thắt tử cung, hoặc làm cho mạch máu ở cuống rốn co lại, làm cho hàm lượng oxy trong máu ở rốn xuống thấp làm cho thai nhi bị thiếu oxy trong thời gian dài, nên thai nhi phát triển chậm, giảm cân, nếu nặng có thể dẫn đến đẻ non, sẩy thai, có dị dạng...

Trong trường hợp, bản thân người phụ nữ không hút thuốc lá nhưng trong thời gian dài sống trong môi trường có khói thuốc. Do hít phải khói thuốc do người khác nhả ra, thì chẳng khác gì người đó hút thuốc, người ta gọi những trường hợp này là Hút thuốc Thụ động. Tác hại của việc hút thuốc gián tiếp này với phụ nữ và trẻ sơ sinh cũng dẫn đến hậu quả xấu như bản thân người đó hút thuốc lá.

 

Trẻ sơ sinh hít phải khói thuốc lá có nguy cơ:

- Tổn thương các chức năng hô hấp

- Dễ mắc các bệnh đường hô hấp

- Đột tử

Trẻ em hít phải khói thuốc lá có nguy cơ:

- Dễ mắc các bệnh đường hô hấp

- Hạn chế tăng trưởng và sự phát triển

- Làm tăng thêm và tăng nguy cơ mắc bệnh hen

- Tăng nguy cơ mắc bệnh viêm tai giữa

- Tăng nguy cơ mắc bệnh tim khi đến tuổi trưởng thành

- Có những rối loạn về hành vi

Phụ nữ cho con bú hít phải khói thuốc lá có nguy cơ:

- Giảm số lượng sữa tiết ra

- Giảm chất lượng sữa

- Cho con bú trong thời gian ngắn hơn

Để tránh tất cả nhữngnguy cơ như trên, phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh cần chú ý không tới nơi có người hút thuốc. Nếu chồng hay một ai đó trong gia đình hút thuốc, vì sức khoẻ của thế hệ sau thì người đó cần cai thuốc hoàn toàn hoặc ít nhất cũng không hút thuốc trong nhà hay gần người phụ nữ có thai, trẻ sơ sinh và trẻ em.

Để biết thêm chi tiết cách cai thuốc lá, mời bạn tham khảo trang Cai thuốc lá.

Phụ nữ mang thai nên tránh tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật:

Bởi tác hại của thuốc bảo vệ thực vật đối với phụ nữ mang thai rất nghiêm trọng, không chỉ làm cho bản thân người phụ nữ sinh ra một loạt các triệu chứng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự trưởng thành và phát triển thai nhi trong bụng. Bởi thuốc bảo vệ thực vật sau khi vào cơ thể người phụ nữ mang thai, có thể qua cuống rốn vào cơ thể thai nhi, gây tác hại cho phôi thai đang phát triển, làm cho thai nhi phát triển chậm lại, gây dị tật, thiểu năng trí tuệ, nghiêm trọng hơn là có thể gây sẩy thai, đẻ non, thai chết lưu...

Thuốc bảo vệ thực vật có rất nhiều loại như: Thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc điều tiết và kích thích sinh trưởng của cây...Thuốc bảo vệ thực vật có thể bị nhiễm qua nhiều con đường khác nhau vào cơ thể người mẹ như: ăn thức ăn qua miệng (có trong rau, hoa quả, nhiễm nguồn nước...), hoặc có thể nhiễm qua hô hấp hay qua tiếp xúc với da vào cơ thể.

Để tránh tác hại do thuốc bảo vệ thực vật gây ra đối với thai nhi, phụ nữ mang thai nhất thiết không được tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật. Với thuốc bảo vệ thực vật có trong gia đình để sử dụng trong nông nghiệp, tuyệt đối không được để lung tung. Với thuốc dạng bột phải bọc kỹ phòng ngừa bị gió thổi làm ô nhiễm môi trường, với thuốc dạng nước phải đậy chặt nắp để tránh khuếch tán trong không khí. Phụ nữ mang thai không nên dừng lâu ở nơi vừa mới phun thuốc bảo vệ thực vật, ở nhà và sân nhà không nên phun thuốc diệt côn trùng, càng không tham gia công việc phun thuốc bảo vệ thực vật. Ngoài ra con cần rửa sạch rau, quả, ăn hoa quả tốt nhất là gọt vỏ, xào luộc kỹ rau trước khi ăn. Tất cả những phương pháp trên đều có thể làm giảm bớt sự hấp thụ thuốc bảo vệ thực vật làm cho mẹ và thai nhi khoẻ mạnh.

 

Vệ sinh thân thể và hoạt động nghỉ ngơi

Vệ sinh thân thể

Do sự thay đổi sinh lý đặc thù trong thời gian mang thai, nên khi mang thai các tuyến mồ hôi hoạt động mạnh,biểu hiện qua hiện tượng hay ra mồ hôi, hoặc ra mồ hôi nhiều. Đồng thời do mức độ hoocmon sinh dục tăng cao nên các dịch tiết âm đạo tiết ra cũng tăng. Vì vậy phụ nữ trong thời kỳ mang thai cần chú ý vệ sinh cá nhân hàng ngày bằng cách: Tích cực tắm rửa, thay quần áo hàng ngày. Nên mặc quần áo thoáng, mát đi giầy dép thấp.

Chú ý: Để tránh viêm nhiễm ngược dòng cho mẹ bé và đảm bảo vệ sinh thân thể, mẹ bé nên sử dụng nước sạch để tắm rửa, nên tắm xối nước, không nên tắm ở bồn, nhiệt độ nước vừa phải, thời gian vừa phải, tránh để nhiệt độ cao, thời gian dài, tắm trong phòng kín gió, tránh tắm trong buồng tắm đóng kín (không có quạt thông gió) thì sẽ thiếu oxy.

Tạo điều kiện cho việc nuôi con bằng sữa mẹ sau này,mẹ bé nên chú ý chăm sóc vú từ khi có thai bằng cách khi tắm rửa hàng ngày nên lau đầu vú nhẹ nhàng bằng nước ấm, khi rửa không được dùng xà phòng (gây khô da, nứt nẻ đầu vú), cũng không được dùng cồn, nên dùng sữa tắm. Một số ít bà mẹ có núm vú dẹp hoặc thụt vào bên trong sẽ gây trở ngại cho bé khi bú. Từ tuần mang thai thứ 17 trở đi, mẹ bé cần kéo nhẹ nhàng núm vú ra ngoài bằng cách: Dùng ngón tay trỏ và ngón cái kẹp lấy đầu vú rồi nhẹ nhàng kéo ra ngoài. Làm như vậy khoảng 10 phút mỗi ngày. Nếu làm cách đó không có kết quả, thì dùng bộ hút đầu vú để hút núm vú ra, mỗi ngày nên kiên trì làm vài lần.

 

Hoạt động và nghỉ ngơi phù hợp

Khi mang thai mẹ bé cần nghỉ ngơi nhiều hơn bình thường. Mỗi ngày mẹ bé hãy ngủ trưa 1 tiếng, tối ngủ 8-10 tiếng và nên nằm nghiêng sang trái.

Khi mang thai mẹ bé nên duy trì hoặc tham gia một số hoạt động thể dục, thể thao vừa phải sẽ rất có lợi cho cả mẹ và thai nhi. Một số môn thể thao vừa sức mà mẹ bé có thể duy trì hoặc tham gia tùy theo từng thời điểm và tình trạng sức khỏe của thai nhi như: đi bộ, thái cực quyền, đi xe đạp, đánh bóng bàn, cầu lông, chạy chậm…Cần chú ý là khi cảm thấy hơi mệt thì cần phải dừng ngay. Những hoạt động thể dục thể thao vừa phải có thể làm cho thân thể mẹ bé khỏe mạnh, tăng cường sức đề kháng đối với bệnh tật, làm cho chức năng của phổi được tăng cường, đồng thời có thể điều tiết hệ thống thần kinh, giúp tiêu hóa tốt, thúc đẩy lưu thông máu ở phần bụng và chi dưới, làm giảm trạng thái dồn ép khiến mỏi mệt hoặc phù, ngăn ngừa vị trí thai nhi lệch và đẻ khó. Đồng thời do thường xuyên hoạt động ngoài trời, nên hít thở được không khí trong lành, tiếp nhận đầy đủ tia tử ngoại trong ánh nắng mặt trời (buổi sáng), giúp cho cơ thể hấp thụ canxi tránh bệnh loãng xương và giúp cho bộ xương của thai nhi phát triển tốt.

Mẹ bé cần lao động hợp sức với khối lượng vừa phải sẽ giúp cho mẹ bé thúc đẩy quá trình chuyển hóa, tuần hoàn máu lưu thông, tăng cường hô hấp và thúc đẩy sự hấp thụ chất dinh dưỡng, rất có lợi cho sự phát triển của thai nhi. Đồng thời việc lao động vừa sức giúp mẹ của bé đẻ dễ hơn.

Mẹ bé cần tránh làm việc gắng sức, mang nặng hoặc nâng vật nặng, đi bộ nhiều tiếng đồng hồ hoặc làm việc cả ngày vất vả, không nên làm việc ca đêm, không ngâm mình dưới nước (làm đồng, đánh bắt thủy sản…), không làm việc ở nhưng nơi độc hại như: tiếp xúc với hóa chất, xăng dầu, chất phóng xạ…

 

Một số dấu hiệu bất thường, nguy hiểm khi mang thai.

Đa số các bà mẹ mang thai và sinh nở an toàn. Tuy nhiên trong quá trình mang thai đôi khi có một số bất thường xảy ra được nêu dưới đây, nếu mẹ bé thấy mình có một trong những dấu hiệu sau cần đến cơ sở y tế ngay:

- Buồn nôn và nôn nặng, không ăn uống được gì

- Ra máu âm đạo bất thường

- Đau bụng nhiều

- Mất các dấu hiệu thai nghén

- Không tăng cân sau tháng thứ 4

- Không thấy thai máy sau tháng thứ 4

- Da rất xanh, nhợt nhạt ở lợi, móng tay trắng nhợt

- Thường xuyên mệt mỏi, hồi hộp, đánh trống ngực

- Chất dịch âm đạo hôi, âm hộ ngứa nhiều

- Phù to ở chân, tay, mặt hoặc phù toàn thân

- Sốt cao

- Sâu răng, viêm lợi

- Đau bụng kèm theo ra máu

- Nhức đầu dữ dội, mờ mắt, cảm giác ruồi bay trước mắt

- Tăng cân quá nhiều

 

Chọn nơi sinh

Nơi sinh đẻ tốt nhất là bệnh viện sản khoa, khoa sản của các bệnh viện đa khoa, nhà hộ sinh, các trạm y tế xã. Bởi những nơi này có bác sĩ, y sĩ, nữ hộ sinh có kỹ thuật tay nghề cao, được đào tạo chính qui, có thuốc men, dụng cụ để sử dụng trong các trường hợp cần thiết đồng thơi nhân viên y tế có thể phát hiện các biến chứng nguy hiểm để kịp thời chuyển sản phụ tới những cơ sở y tế có điều kiện tốt hơn.

Vẫn biết rằng việc sinh đẻ là tự nhiên, nhưng trên thực tế, sinh đẻ không ở cơ sở y tế là rất nguy hiểm, gây ra đa số các trường hợp tử vong vì trong quá trình chuyển dạ, người sản phụ có thể gặp phải những biến chứng như: Suy thai do vỡ ối sớm, thai bị ngạt do chuyển dạ lâu, Băng huyết sau khi đẻ hoặc nhiễm trùng bộ phận sinh dục hoặc nhiễm trùng huyết nếu điều kiện vệ sinh không tốt…Bạn thử tưởng tượng xem, nếu bạn bị một trong những biến chứng như trên thì bạn sẽ ra sao?... Do đó tùy thuộc vào tình trạng thai nhi, thể trạng của người mẹ, ngôi thai trước khi sinh qua các kỳ khám thai mà bạn sẽ được các bác sĩ trực tiếp khám và theo dõi trong suốt quá trình mang thai hướng dẫn hoặc chỉ định nơi sinh. Việc này sẽ giúp cho bạn sinh “mẹ tròn, con vuông”.

 

Thai nghén bình thường, nên đẻ ở cơ sở y tế xã/phường.

Thai nghén nguy cơ cao phải đẻ ở tuyến cao hơn: Huyện, tỉnh, thành phố.

  

Về đầu trang

 

 

CHUẨN BỊ CHO MẸ VÀ BÉ NHỮNG GÌ TRƯỚC KHI SINH

Việc chọn vật dụng cho mẹ và bé là một công việc rất thú vị và hạnh phúc. Có rất nhiều thứ cần chuẩn bị giúp cho việc chăm sóc mẹ và bé hàng ngày. Nếu hai bạn chuẩn bị chu đáo, đầy đủ sẽ giúp bạn thuận lợi hơn trong việc chăm sóc rất tỉ mỉ này!. Bạn cần lên kế hoạch cho việc chuẩn bị tất cả những vật dụng cần thiết cho cả mẹ và con, không nhất thiết vật dụng nào chuẩn bị cho mẹ và bé đều phải mua mới, bạn có thể tận dụng những đồ dùng đã có trong gia đình hoặc trao đổi với những bà mẹ thân quen đã sinh trước đó để có được những vật dụng cho bé mà họ không dùng tới, điều này sẽ giúp bạn tiết kiệm được một món tiền để bạn dùng nó vào việc khác có ích hơn.

 

Chuẩn bị vật dụng cho bé

- 6 áo sơ sinh, tốt nhất nên chọn chất liệu cotton, nó vừ mềm, vừa thoáng. Hãy chọn loại có dây buộc phía trước, sẽ giúp bạn mặc cho bé dễ dàng hơn so với áo chui cổ. Nên chọn áo rỗng rãi một chút vì bé sẽ lớn rất nhanh

- 30 tã lót: Tốt nhất là loại tã bằng vải xô hoặc vải bằng chất liệu bông vải, nó vừa mềm vừa thoáng lại rất dễ thấm, tránh gây sây xước da bé và tránh làm hăm bé…

- 1 gói tã giấy để đeo cho bé vào ban đêm, giúp cho bạn ngủ ngon hơn không phải lo lắng thức dậy để thay tã

- 2 khăn bằng vải xô to để lau, thấm bé sau khi tắm

- 2 khăn vải xô nhỡ để bao đầu bé sau khi tắm

- 15 đến 20 khăn vải xô loại nhỏ dùng làm khăn rửa mặt và khăn thấm sữa cho bé. Nên đánh dấu riêng cho từng loại bằng cách nhận biết viền vắt sổ có màu khác nhau

- 4 tã nỉ loại trung bình (không dầy lắm) để quấn bé

- 2 tã ngủ loaị dầy, giúp bạn quấn bé khi bế ở trong nhà hoặc giúp bạn thay tã cho bé dễ dàng hơn

- 4 tã bông dầy hoặc bằng nỉ để quấn bé cho đỡ lạnh

- 2 chăn bông hoặc chăn Băng-lông cỡ dành cho bé, vừa để đắp hoặc quấn bé khi trời lạnh

- 2 áo len đan và 2 áo bông-cotton. Hiện trên thị trường có bán sẵn những áo này, bạn nên chọn loại áo có cúc mở để mặc và cởi cho bé dễ dàng hơn so với áo chui cổ

- 6 mũ đội đầu cho bé gồm 2 mũ che thóp không có dây (bằng chất liệu cotton), 2 mũ vải mềm có dây buộc, 2 mũ len

- 4 đôi bao tay bằng chất liệu cotton, không nên chọn loại có chun ở tay chặt hoặc loại có đăng ten

- 8 đôi tất chân (vớ) chọn loại đồng bộ như bao tay vì tất chân hay bị ướt nhiều hơn so với tất tay

- 4 yếm bằng vải cotton để giữ ngực bé được ấm và tránh dây sữa khi cho bé bú hoặc ăn

- 30 khăn lót đít bằng vải cũ tận dụng lại hoặc 1 lố giấy vệ sinh để lót đít cho bé để đề phòng bé “ị” ra tã. Bởi trong thời gian đầu bé đi phân su do vậy giặt giũ sẽ rất khó nếu không dùng loại khăn này

- 1 hộp khăn giấy ướt để lau đít cho bé khi đi đại tiện

- 1 cốc có nắp

- 1 thìa nhỏ bằng I-noc để cho bé ăn

- 1 phích để đựng nước nóng, sẽ giúp cho bạn lúc nào cũng có nước ấm để rửa ráy cho bé.

- 1 siêu (ấm nhôm) để đựng nước nguội hoặc nước lã, giúp cho bạn tiện dụng khi pha rửa

- 1 tấm lót cao su chống thấm có lưới ở trên cho bé để khi đặt bé nằm hoặc ngủ trên tấm lót này có đái ra thì sẽ không thấm xuống giường và đệm

- 2 rổ nhựa để đựng vật dụng. Một dành cho đựng tã lót sạch, một dành đựng tã lót bẩn

- 2 chậu nhựa, một chậu nhỏ dùng để rửa mặt, lau người cho bé, một chậu to dùng để tắm cho bé

- 1 chậu to dùng để ngâm và giặt tã cho bé

- 1 bô để xi bé

- 1 nhiệt kế để khi cần cặp nhiệt độ cho bé

- 1 hộp sữa dành cho trẻ sơ sinh để dùng cho bé trong những ngày đầu khi mẹ chưa có sữa

- 1 bình pha sữa và thiết bị tiệt trùng

- 1 hộp sữa tắm, dầu gội đầu cho bé

- 1 màn chụp cho bé ngủ

- 1 xe đẩy em bé: nếu có điều kiện thì bạn hãy mua loại xe này. Nên chọn loại gấp được và chỉnh được cả nằm và ngồi

 

Chuẩn bị vật dụng cho mẹ và con khi đi sinh

Trước khi đi sinh bạn cần chuẩn bị đồ cho mẹ và cho bé, những đồ này là một trong số những vật dụng đã được bạn mua sắm trước. Tốt nhất, trước thời gian sinh khoảng 20 ngày, bạn hãy sắp xếp những vật dụng này vào một chiếc túi lớn, để khi cần có thể mang đi ngay. Những vật dụng cần chuẩn bị cho mẹ và bé khi đi sinh là:

- Quần áo dành cho mẹ

- Khăn mặt, bàn chải đánh răng, tất, mũ hoặc khăn đội đầu dành cho mẹ 

- 1 gói băng vệ sinh phụ nữ để mẹ bé dùng sau khi sinh

- 1 cuộn giấy vệ sinh

- 1 phích đựng nước

- 1 chai nước lọc

- 2 chậu nhựa, một chậu để rửa mặt, một chậu để rửa ráy

- 1 ca nhựa, cốc có nắp dùng để uống nước hoặc pha sữa

- 2 chiếc thìa, 1 chiếc lớn cho mẹ, 1 chiếc nhỏ cho bé

- 1 hộp khăn ướt dành cho bé

- 1 gói bông y tế tiệt trùng

- 1 hộp băng rốn

- 1 hộp sữa cho trẻ sơ sinh

- 1 bình pha sữa và dụng cụ tiệt trùng

- 20 chiếc tã dùng hàng ngày

- 2 chiếc tã bông hoặc tã nỉ loại trung bình

- 1 chăn dầy to để quấn bé nếu trời lạnh

- 1 chăn lông to để đắp cho bé

- 1 gối dành cho bé

- 4 áo sơ sinh

- 2 áo len hoặc áo bông

- 2 khăn xô dùng để thấm khô cho bé sau khi tắm

- 2 khăn bao đầu cho bé sau khi gội đầu

- 1 hộp dầu tắm, gội đầu dành cho bé

- 4 chiếc mũ, trong đó 2 mũ thóp và 2 mũ mỏng có dây buộc, nếu trời rét cần mang theo

- 1 mũ len

- 2 đôi bao tay

- 5 đôi tất chân

- 1 tã cao su chống thấm

- 10 chiếc khăn xô loại nhỏ dùng làm khăn mặt, khăn ăn cho bé

- 1 hộp tã giấy dành cho bé

- 1 khăn choàng to để quấn bé khi được về nhà

- Tiền, thẻ bảo hiểm y tế (nếu có ), sổ khám thai định kỳ

  

Về đầu trang

 

 

CHĂM SÓC BÀ MẸ VÀ BÉ SAU KHI SINH

Chăm sóc mẹ bé

- Sau khi sinh mẹ bé mẹ bé cần được nghỉ ngơi và chăm sóc đặc biệt để phục hồi sức khoẻ

- Sau khi sinh(tuỳ từng trường hợp) mà mẹ bé cần được các bác sĩ theo dõi tình trạng sức khoẻ như: Sự co hồi tử cung, mạch, nhiệt độ, huyết áp, sản dịch

- Dinh dưỡng sau sinh là một yếu tố vô cùng quan trọng để mẹ bé phục hồi sức khoẻ và có đủ sữa để cho con bú. Do đó mẹ bé cần được ăn uống đầy đủ cả về số lượng và chất lượng

- Mẹ bé cần được nghỉ ngơi thoải mái, ngủ nhiều hơn bình thường. Hãy tranh thủ ngủ trong những lúc bé ngủ bạn nhé!

- Mẹ bé nên tập thể dục nhẹ nhàng từ 15 -20 phút mỗi ngày để cơ thể nhanh chóng hồi phục bằng những động tác nhẹ nhàng ban đầu như: Co duỗi cẳng chân, hóp bụng vào khi thở ra. Khi đã khoẻ thì tập các động tác: Đang nằm kéo đầu và nửa người trên dậy đến hết mức, hoặc đang ngồi ngả lưng nằm xuống không chống tay sẽ rất tốt cho cơ bụng

- Mẹ bé cần giữ vệ sinh cơ quan sinh dục bằng cách rửa sạch bộ phận sinh dục bằng nước sạch, thay băng vệ sinh ít nhất là từ 3 đến 4 lần trong ngày (sáng, trưa, chiều và trước khi đi ngủ) tới khi hết sản dịch. Nên tắm rửa thân thể thường xuyên bằng nước ấm ở nơi kín gió. Đồng thời cần vệ sinh bầu vú một cách thường xuyên để tránh các viêm nhiễm lây cho con khi cho bé bú

- Mẹ bé cần tránh có quan hệ tình dục tối thiểu sau đẻ khoảng 6 tuần để cơ quan sinh dục phục hồi được tốt và tránh nhiễm trùng

- Bố và mẹ bé cần lựa chọn biện pháp tránh thai có hiệu quả khi có quan hệ tình dục trở lại - Xin mời bạn vào trang:  Các biện pháp phòng tránh thai.

 

Chăm sóc bé

Cho bé bú mẹ ngay trong vòng 1 giờ sau đẻ để bé được bú sữa non. Trong sữa non có rât nhiều kháng thể, nhờ vậy bé sẽ ít bị nhiễm bệnh trong năm đầu tiên. Đồng thời động tác mút vú của bé giúp cho tử cung người mẹ co hồi sớm, đỡ chảy máu sau đẻ.

Sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất cho bé. Cần cho bé bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu. Hãy cho bé bú bất cứ khi nào bé đòi ăn, kể cả ngày lẫn đêm.

- Vệ sinh thân thể cho bé hàng ngày bằng nước sạch, ấm.

Sau khi sinh, Bé cần được làm giấy khai sinh tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, huyện, thị hoặc thành phố nơi gia đình sinh sống. Đồng thời bé cũng cần được đăng ký tên ở trạm y tế xã, phường để các cán bộ y tế thông báo, cung cấp lịch tiêm chủng và uống vi ta min A theo đúng lịch tại địa phương.

- Cho bé bú mẹ đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn mới cai sữa.

- Cho bé ăn bổ sung: Từ tháng thứ 5 trở đi, ngoài sữa mẹ cần cho bé ăn thêm thức ăn bổ sung bắt đầu từ ít đến nhiều và từ lỏng đến đặc dần để bé quen dần. Thức ăn cần có đủ thành phần dinh dưỡng như: Chất bột, chất đạm, chất béo và các vi ta min có trong bột gạo, đậu, thịt, cá, tôm, cua, trứng, dầu, mỡ, rau xanh và hoa quả tươi chín

     + Trẻ 5 –6 tháng: Bú mẹ và cho bé ăn bổ sung từ 1-2 bữa bột loãng với nước thịt, lòng đỏ trứng gà, rau, dầu ăn hoặc mỡ. có thể cho bé uống từ 2 đến 4 thìa nước ép hoa quả tươi

     + Trẻ 7-8 tháng tuôỉ: Bú mẹ và cho bé ăn bổ sung từ 1-2 bữa cháo loãng với thịt, cá, tôm, cua, rau. Cho bé uống từ 4-6 thìa nước ép hoa quả tươi

     + Trẻ 9-12 tháng tuổi: Bú mẹ và cho bé ăn bổ sung 3 bữa cháo đặc với thịt, cá, tôm, cua, trứng, rau. Cho bé uống từ 6-8 thìa nước ép hoa quả tươi

     + Trẻ 1-2 tuổi: cho bú mẹ và cho bé ăn 3 bữa cháo đặc hoặc cơm nát và từ 8-10 thìa nước quả ép

- Mẹ bé nên cân bé hàng tháng để theo dõi xem bé có phát triển có tốt không. Sau 6 tháng cân nặng của bé phải tăng gấp đôi so với lúc sinh. Sau 1 năm, cân nặng của bé phải tăng gấp ba lần lúc sinh.

     + Nếu cân tháng này cao hơn tháng trước: Bé phát triển bình thường.

     + Nếu cân nặng tháng này bằng tháng trước: Bé ngừng phát triển-Có nguy cơ suy dinh dưỡng. Mẹ bé cần tìm nguyên nhân để giúp bé tăng cân, tránh suy dinh dưỡng.

     + Nếu cân tháng này thấp hơn cân tháng trước: Bé bị suy dinh dưỡng. Cần đưa bé đến ngay cơ sở y tế để khám và tư vấn kỹ hơn.

- Mẹ bé nên đưa bé ra ngoài trời tắm nắng. Tốt nhất là vào buổi sáng trước 9 giờ để phòng còi xương, trừ những ngày quá lạnh.

- Cần đưa bé đi tiêm chủng đầy đủ theo chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai tại địa phương. Tất cả các vacxin dùng trong tiêm chủng mở rộng dành cho bé tại địa phương đều miến phí

     + Khi bé được tiêm chủng dầy đủ, đúng thời gian, cơ thể bé sẽ tạo được miễn dịch, có sức đề kháng để chống lại những bệnh đã được tiêm phòng. Nếu bé không được tiêm phòng hoặc có tiêm nhưng tiêm không đầy đủ, bé dễ bị mắc các bệnh truyền nhiễm như: Sởi, ho gà, lao, bại liệt, bạch hầu, uốn ván, viêm não Nhật Bản, viêm gan B... Đây là những bệnh ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển cả về tâm, trí lực của trẻ, để lại những di chứng nặng nề, thậm trí có thể làm t ử vong

     + Nếu vì một lí do nào đó mà bé không được tiêm phòng đầy đủ trong năm đầu tiên thì phải tiêm ngay sau đó càng sớm càng tốt. Những bé bị ốm nhẹ hay suy dinh dưỡng vẫn cần được tiêm chủng đầy đủ.

     +  Đối với những bé ốm nặng, sau khi bình phục cần được tiêm chủng bổ sung. Sau khi tiêm chủng, một số bé sẽ quấy, khóc, sốt, nổi mẩn hoặc sưng nhẹ ở chỗ tiêm. Mẹ bé đừng lo!

     + Đây là phản ứng phụ xảy ra với tỷ lệ thấp, thường là tự qua khỏi. Trong những trường hợp này, cần cho bé ăn uống đầy đủ, giữ vệ sinh cho bé sạch sẽ, cần tiếp tục cho bé bú mẹ đầy đủ nhưng cần theo dõi thể trạng bé hằng ngày. Nếu thấy bé sốt cao, kéo dài trên 2 ngày, cần đưa bé đến ngay cơ sở y tế để được xử trí.

 

LỊCH TIÊM CHỦNG CHO TRẺ EM

Tháng Tuổi

Vacxin Cần Tiêm

Mũi Tiêm

Sơ sinh (càng sớm càng tốt)

BCG (phòng Lao)

1 mũi

Viêm gan B

Vacxin viêm gan B mũi 1 (tốt nhất là 24 đầu sau sinh)

2 Tháng tuổi

Bại liệt

Bại liệt lần1

Bạch hầu, ho gà, uốn ván

Bạch hầu, ho gà, uốn ván mũi 1

Viêm gan B

Vacxin viêm gan B mũi 2

3 Tháng tuổi

Bại liệt

Bại liệt lần 2

Bạch hầu, ho gà, uốn ván

Bạch hầu, ho gà, uốn ván mũi 2

4 Tháng tuổi

Bại liệt

Bại liệt lần 3

Bạch hầu, ho gà, uốn ván

Bạch hầu, ho gà, uốn ván mũi 3

Viêm gan B

Vacxin viêm gan B mũi 3

9 Tháng tuổi

Vacxin sởi

Mũi 1 khi trẻ đủ 9 tháng tuổi
Và đưa trẻ đi tiêm trong chiến dịch tiêm nhắc lại vacxin sởi

Từ 1 đến 5 tuổi

Viêm não Nhật Bản*

Vacxin viêm não mũi 1

Vacxin viêm não mũi 2 (2 tuần sau mũi 1)

Vacxin viêm não mũi 3 (1 năm sau mũi 2)

Từ 2 đến 5 tuổi

Vacxin tả*

2 lần uống (Lần 2 sau lần 1 hai tuần)

Từ 3 đến 5 tuổi

Vacxin thương hàn*

Tiêm 1 mũi duy nhất

Ghi chú:  *Vacxin tả, thương hàn, viêm não Nhật Bản chỉ tiêm chủng ở các vùng có nguy cơ gây bệnh.